Thưa bà con
Trong
tháng 1- 2010 nhà xuất bản Văn học đã ra mắt người đọc ấn phẩm MÂY TRẮNG DINH
PHOAN của nhà văn Trần Huiền Ân. Đây là tập tạp bút gồm 63 bài ghi chép lại những
suy nghĩ, cảm nhận cuả tác giả trong hơn mười lăm năm về những kỷ niệm ngày thơ ấu , những vùng đất
thân thuộc trên xứ sở hình chữ S đặc biệt là Phú Yên- quê hương ông, những nét
đẹp văn hóa truyền thống thể hiện qua tập
tục lối sống của người dân các vùng miền, về cỏ hoa mây gió nắng mưa... bằng giọng
văn nhẹ nhàng tinh tế, là ấn phẩm thứ mười ba của ông và là cuốn tạp bút đầu
tiên. 12 tập trước gồm:
THƠ:
- Thuyền giấy ( NXB Bách Khoa, 1967 )
- Năm năm dòng sông thơ ( NXB Đồng Dao, 1973 )
-
Lời
trên lá ( NXB Trẻ, 1997 )
-
Rừng
cao ( NXB Thanh niên, 2007)
TRUYỆN:
-
Tiếng
hát nhân ngư ( NXB Văn nghệ TPHCM, 1997 )
-
Một
nửa chân trời ( NXB Trẻ, 1997)
-
Mùa
hè quê ngoại ( NXB Trẻ 2002)
-
Khói
của ngày xưa ( Hội VHNT Phú Yên)
BIÊN KHẢO:
-
Văn
hóa vật chất nông thôn Phú Yên ( Hội VNDG Việt Nam, 2001)
-
Phú
Yên: Miền đất ước vọng ( NXB Trẻ, 2004)
-
Phú
Yên: Thời khẩn hoang lập làng ( NXB Nông nghiệp, 2007)
-
Đá
và Người ( NXB Từ Điển Bách Khoa, 2009)
Ngọc Hoa vui mừng giới thiệu đến bà con và
trân trọng cảm ơn nhà văn Trần Huiền Ân
đã ghi tên Ngọc Hoa vào danh sách thân hữu khi nhờ bưu điện chuyển sách đến tận tay trong những ngày giáp Tết
Canh Dần.
Xin trích gởi đến bà con bài được chọn làm tên sách để bà con cùng biết
thêm về lịch sử Phú Yên - một tỉnh hiền
hòa dải đất miền Trung: MÂY TRẮNG DINH PHOAN
"
BÌA 1 BÌA 2
MÂY TRẮNG DINH PHOAN
Hầu
hết sông ở Phú Yên có chung đặc điểm, nhập dòng lại và chảy ra biển bằng một cửa.
Biệt lệ chỉ có sông Cái. Là hợp lưu của sông La Hiên, sông Kỳ Lộ, sông Trà
Bương, sông Cô và mấy nguồn suối nhỏ nữa, về tới hạ lưu nó lại chia ra nhiều
nhánh, chảy ra hai nơi: vịnh Xuân Đài và đầm Ô Loan. Những nhánh sông như những
ngón tay trong bàn tay châu thổ xòe rộng níu giữ phù sa, mỗi mùa mưa lụt lại
bồi đắp cho thêm màu mỡ. Nơi đây là vùng đất xưa, từ thuở Lưu thủ Văn Phong
vâng lệnh Chúa Tiên Nguyễn Hoàng lập phủ Phú Yên, coi như hoàn thành cái ước
vọng xây dựng cõi Nam Hà từ sông Linh Giang đến núi Thạch Bi, để Trấn thủ
Nguyễn Phước Vinh tiếp tục củng cố sự ổn định vững bền cơ nghiệp. Nơi đây là
đất lành, trên bước đường thiên di tìm
nắng ấm đàn chim Việt dừng lại khá lâu để xây tổ vầy đàn. Và từ nơi đây hơn bốn
mươi năm sau Hùng Lộc hầu đem quân vượt qua đèo Hổ Dương mở mang dinh Thái Khang.
Đời Tự Đức, Bố
chánh Đinh Nho Quang tâu vua rằng địa cuộc nơi đây là bậc nhất của Phú Yên nên
ngôi làng trung tâm mang tên Long Uyên, nghĩa là Vực Rồng. Chung quanh thành
quách phủ lị, trấn lị nơi Vực Rồng/Vực Sâu Xa là những cánh đồng màu mỡ quanh
năm lúa bắp tốt tươi. Những ngọn núi thấp rải rác yên nằm, đọc tên lên dù chưa
rõ nghĩa nghe như có chút gì bâng khuâng nhớ tiếc: núi Sơn Chà, núi A Man...
Mỗi địa danh mang dấu ấn một nghề thủ công tinh xảo: từ Phường Lụa qua xóm Lò
Gốm xuống Hàng Dao...một cảnh trí thiên nhiên hữu tình: đây là bến đò Cây Dừa,
kia là bàu Cửa Tả...hoặc một điểm sinh hoạt đông đảo: buổi sáng chợ Mai, buổi xế chợ Chiều, ngày tàn có chợ
Hôm, thay đổi nhau phiên Thành, phiên Giã... Qua đền thờ vua Lê Thánh Tông nghĩ
về cội nguồn người dân Phú Yên đặt thành câu hỏi: "Giang sơn khai thác hà niên...?". Núi sông này khai thác tự năm nào,
không phải sử sách không ghi, không phải chỉ có phụ lão tương truyền, không
phải thế hệ hôm nay không biết. Câu hỏi đặt ra là muốn được trả lời rằng công
ơn tổ tiên vô cùng to lớn, mãi mãi dài lâu, luôn luôn trường đối với núi cả
sông sâu.
Nơi đây cũng là đất
của niềm tin nhân ái, của lòng ngưỡng vọng hướng về sự siêu thoát cao minh. Năm
1641 Linh mục Đắc Lộ đã đến làm lễ rửa tội cho giáo dân, trong đó có người sau
này được phong Thánh chân phước là Thầy giảng André Phú Yên. Thiền sư Liễu
Quán, người rất có công trong việc Việt
hóa Phật giáo xứ Đàng Trong, mở ra một thiền phái mang tên ngài, xuất gia quy y
tại chùa Hội Tôn khoảng năm 1672. Có phải đây là ngôi chùa xưa nhất của Phú
Yên, mặc dù trước đó đạo Phật đã phát triển? Cũng như nhà thờ đầu tiên của Phú
Yên tại Mằng Lăng mãi đến năm 1892 mới được Linh mục Joseph La Cassagne xây
dựng? Bên ngoài và thật gần với nhà thờ hiện nay còn những chứng tích của một
thời tôn giáo song song phát triển. Một ngôi
tháp xưa, thân tháp tuy bị trầy tróc nhưng còn khá nguyên vẹn, phần dưới bị đất
bồi lấp. Tấm bia phía trước chỉ đọc được ba chữ rời rạc cách quãng nhau: hóa... tự... mẫu. Theo các vị chức sắc
Phật giáo thì ngày xưa chùa Hội Tôn bao gồm hết cả khu vực rộng lớn, bây giờ là
nhà thờ và khu dân cư, kiểu kiến trúc này là tháp Hòa thượng, nhưng không biết
tháp của ngài nào. Bên cạnh ngôi cổ tháp là một khu mộ của một dòng họ với
nhiều kiểu mộ. Hai ngôi lớn xây thành chung quanh, chính giữa đổ cát, là mộ ông
cố, bà cố của một gia đình ở gần, họ cho biết an táng cách nay khoảng 100 năm.
Mấy ngôi mộ xưa kiểu kiều ngựa, nơi chân sát mặt đất đắp hoa văn bông sen, phía
trước lờ mờ dấu hình chiếc lư hương. Mấy ngôi mộ hình chữ nhật xây cao, phía
trước có đắp hình thánh giá cũng đặt trên lư hương. Mấy ngôi nữa thành mộ thấp,
bên trên xây kín có đắp hình thánh giá. Có lẽ ngày xưa dòng họ này là người
theo phong tục thờ cúng tổ tiên hoặc quy y Phật giáo (mộ kiểu kiều ngựa, hoa
văn bông sen), sau đó chịu rửa tội theo Công giáo (mộ hình chữ nhật xây cao,
thánh giá phía trước) và tiếp tục đến nay (mộ xây thánh giá phía trên và hai
ngôi mộ đổ cát).
Cách nhà thờ Mằng Lăng khoảng nửa cây số, có núi Sơn Chà, một ngọn núi
thấp nằm trong châu thổ Tuy An, sỏi sạn khô cằn, cây cối xơ xác, màu xanh đang
thành phơi bạc trong cái nắng nung của tiết tiểu thử. Đây là di tích chùa Cổ
Lâm, do chùa Hội Tôn từ Mằng Lăng dời về. Từ chân núi lên khu tháp không xa,
khoảng trên 50 bậc đất đá cao thấp (không phải xây hay chất ngay thẳng) hơi
quanh co và tiếp một đoạn ngắn. Khu tháp có 10 ngôi, 6 tháp Hòa thượng, 1 tháp
Đại đức và 3 tháp Ni cô. Trong đó qua một tấm bia tân tạo biết được tháp của
Hòa thượng Diệu Thiện đời thứ 40 phái Lâm Tế, so với ngài Liễu Quán đời thứ 35.
Nhưng không rõ có phải ngài là vị khai sơn chùa Cổ Lâm? Còn 5 tháp kia không rõ
là của ngài nào. Dưới chân núi còn có 2 ngôi tháp nữa... Những người nghiên cứu
lịch sử Phật giáo Phú Yên cũng chưa tìm được câu trả lời. Khu mộ tháp này với
lối kiến trúc tương tự, có vẻ như xây dựng một lượt, phải chăng là từ Hội Tôn
cùng cải táng qua. Nếu như vậy tại sao một ngôi tháp vẫn còn ở Hội Tôn?
Trong vùng này có nhiều chùa, nhiều nhà thờ, nhà nguyện. Đi dọc sông
Phường Lụa sẽ đến chùa Châu Lâm, nơi nhà văn Võ Hồng gởi gắm nhiều kỉ niệm
trong tác phẩm Mái chùa xưa. Dòng
sông chảy sát xóm nhà, gần đường đi. Phía trên đường là nhà Người Bác của Võ Hồng, nhân vật chính
của tác phẩm Người về đầu non, người
đã nuôi Võ Hồng ăn học lớn khôn. Phía dưới là nhà cha mẹ Võ Hồng. Có thể hình
dung ra...nơi mé sông ấy, buổi sáng mùa đông thời thơ ấu Võ Hồng đã nhìn thấy và
tri hô lên cho cả bọn trẻ cùng biết cái tin sốt dẻo: nước đã lên, nước đang
lên, lụt rồi, lụt rồi... Chùa Châu Lâm trên lưng chừng núi A Man, phía trước là
cánh đồng rộng mang tên Đồng Mạ, vì vậy dân chúng quanh vùng gọi là chùa Đồng
Mạ. Chùa mới được trùng tu, vách sơn màu lam, một cây mít tơ cao chất chồng dắt
díu nhiều trái đang độ nở gai già dặn. Ngồi dưới gốc mít nhìn thấy bao quát từ Đồng
Mạ ra xa hơn nữa. Nhà văn Võ Hồng đã viết nhiều về quê kiểng Phú Yên. Điều
nhiều người cảm thấy là dưới ngòi bút của ông nông thôn Phú Yên lúc nào cũng
xanh biếc cỏ non, ngát thơm hương lúa, xinh đẹp như những bức tranh màu nước
trên lụa, những bức tranh phấn tiên trên giấy nhung, như những bài thơ tiền
chiến, con người dẫu thất tình thất thế cũng dịu dàng lịch sự. Hình như ông
không muốn đào sâu xới kỹ hơn, sợ sẽ bật tung lên đất đá khô cằn. Thế hệ nối
tiếp viết về Phú Yên những mong lục lọi phơi bày ra một bên những đắng cay chua
chát mỉa mai, tiếc rằng chưa đủ duyên nghiệp và thời vận.
Từ buổi ban đầu không
biết ai đã chủ trương gọi là Phú Yên
thay vì Phú An như thường lệ. Nhưng
thoạt nhìn mặt chữ thì người ta đọc ngay là Phú
An. Vì vậy trên nhiều bản đồ xưa các giáo sĩ Tây Phương ghi vùng này là Dinh Phoan, tức là Dinh Phú An = Dinh
Phú Yên. Gọi là Dinh Phú An nghe đài các xa lạ, Dinh Phú Yên gần gũi thân mật
hơn, còn Dinh Phoan có cái dễ thương của người ngoại quốc bập bẹ tiếng Việt,
cũng như những em bé lên ba lên năm đang tập nói. Từ dưới gốc mít tơ chùa Châu
Lâm ngẩng lên, gần sát bên là mấy đỉnh tháp, có thể hình dung ngay chỗ kia là
gác chuông nhà thờ. Trời mùa hạ xanh thật xanh, mây dày đặc và trắng nõn khắp
cả Dinh Phoan.